Thuế bảo vệ môi trường là gì? Căn cứ và phương pháp tính thuế

Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước để tập trung tích lũy vào ngân sách Nhà nước, là công cụ để quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tạo sự bình đẳng giữa những thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước. Ngoài những vai trò, mục đích, ý nghĩa chung của một loại thuế thì thuế bảo vệ môi trường có những vai trò, mục đích và ý nghĩa riêng, đó chính là vấn đề môi trường. Có thể nói mục đích chính của luật thuế môi trường không phải là tài chính mà là sự cải thiện về môi trường. – Drepanetworld.org

Khái niệm Thuế bảo vệ môi trường là gì?

Thuế bảo vệ môi trường là khoản thu vào của ngân sách nhà nước. Nhằm điều tiết các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường đồng thời kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Thuế bảo vệ môi trường được xem như là một loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng mà gây tác động xấu đến môi trường. Đánh thuế môi trường là hình thức hạn chế một sản phẩm hay hoạt động nào đó không có lợi cho môi trường.

thuế bảo vệ môi trường là gì

Còn phí bảo vệ môi trường là gì?

Phí bảo vệ môi trường cũng là khoản thu của Nhà nước. Nhằm bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên để xây dựng, bảo dưỡng môi trường. Đồng thời tổ chức quản lý hành chính của nhà nước đối với các hoạt động của người nộp thuế.

Phí bảo vệ môi trường được coi như là khoản thu bắt buộc đối với các cá nhân, pháp nhân được hưởng một lợi ích hoặc sử dụng một dịch vụ môi trường nào đó.

Sự giống nhau và khác nhau của 2 khái niệm

Giống nhau:

Đều là các công cụ kinh tế để đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng hiệu quả ở trong nền kinh tế thị trường

Khác nhau:

Thuế bảo vệ môi trường

  • Chủ thể ban hành: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  • Mục tiêu: Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, được lấy từ người gây ô nhiễm và gây thiệt hại cho môi trường để bù đắp cho các chi phí xã hội khác.
  • Tính chất: Không mang tính đối giá. Không mang tính hoàn trả trực tiếp.
  • Tầm quan trọng : Cao hơn.
  • Tính lợi ích: Không liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp.
  • Tính ổn định: Có tính ổn định cao và ít thay đổi.
  • Chủ thể chịu trách nhiệm trả: Người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng người sản xuất lại là người nộp thay.
  • Mức độ liên quan đến quy mô đối tượng: Mức độ liên quan đến quy mô đối tượng thấp.
  • Chủ thể có quyền thu: Chỉ có Nhà nước.

Phí bảo vệ môi trường

  • Chủ thể ban hành: Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan nhà nước khác theo thẩm quyền
  • Mục tiêu: Nhằm làm thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm. Ngăn ngừa xả thải ra môi trường các chất ô nhiễm có thể xử lý được. Tăng nguồn thu nhập để chi trả cho các hoạt động cải thiện môi trường.
  • Tính chất: Mang tính đối giá. Mang tính hoàn trả trực tiếp.
  • Tầm quan trọng : Thấp hơn.
  • Tính lợi ích: Có liên quan trực tiếp đến lợi ích của người nộp.
  • Tính ổn định: Tính ổn định thấp, có thể thay đổi nhanh.
  • Chủ thể chịu trách nhiệm trả: Người chịu phí và người nộp phí BVMT chính là người xả thải ra môi trường.
  • Mức độ liên quan đến quy mô đối tượng: Hầu như liên quan trực tiếp đến quy mô sử dụng dịch vụ.
  • Chủ thể có quyền thu: Nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc được uỷ quyền

Xem thêm: Ô nhiễm môi trường biển là gì? Nguyên nhân gây ô nhiễm biển

Căn cứ và phương pháp tính thuế bảo vệ môi trường

Phương pháp tính thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường phải nộp sẽ được tính theo công thức sau:

Thuế bảo vệ môi trường phải nộp = Số lượng đơn vị hàng hoá tính thuế x Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá.

Căn cứ tính thuế

Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế & mức thuế tuyệt đối.

Số lượng hàng hóa được tính thuế được quy định như sau:

1. Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, cho tặng, khuyến mại, quảng cáo.

2. Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu.

Đối với trường hợp số lượng hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường xuất, bán và nhập khẩu tính bằng đơn vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì phải qui đổi ra đơn vị đo lường quy định tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường để tính thuế.

3. Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, cho tặng, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng.

số thu thuế bảo vệ môi trường từ 2012-2017

Cách xác định như sau:

Số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch tính thuế = Số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho x Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp

Căn cứ tiêu chuẩn kỹ thuật chế biến nhiên liệu hỗn hợp được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, (kể cả trường hợp có thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp), người nộp thuế tự tính toán, khai, nộp thuế BVMT đối với số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch;

Đồng thời có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế về tỷ lệ phần trăm (%), xăng, dầu, mỡ nhờn có gốc hoá thạch chứa trong nhiên liệu hỗn hợp và nộp cùng với tờ khai thuế của tháng tiếp theo tháng bắt đầu có bán, (hoặc có thay đổi tỷ lệ) nhiên liệu hỗn hợp.

Mức thuế tuyệt đối làm căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường đối với từng loại hàng hoá là mức thuế được quy định tại Biểu mức thuế bảo vệ môi trường ban hành kèm theo Nghị quyết số 1269/2011/NQ-UBTVQH12 ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Xem thêm: Học sinh cần làm gì để bảo vệ môi trường?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *